Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010

CCĐY 4 – CÁCH CHỮA BỆNH THEO ĐÔNG Y

Chung quanh ta chỗ nào cũng có cây cỏ đủ loại, nhiều đến nỗi chúng ta không thể biết được hết tên chúng là gì, ngày xưa các y sinh nghiên cứu về thuốc cây cỏ đều có một thắc mắc làm sao phân biệt được cây nào là thuốc, cây nào không phải là thuốc .Để giải đáp thắc mắc ấy, vị sư phụ cho một công trình nghiên cứu ‘Hãy tìm xem những cây nào không phải là thuốc ? ‘’.

A-Áp dụng tiêu chuẩn tính-khí-vị :

Họ áp dụng tiêu chuẩn tính-khí-vị của cây cỏ đem tác động vào lục phủ ngũ tạng và nhận thấy mạch khí trước và sau khi dùng cây cỏ có sự biến đổi khác nhau, có tác dụng khí hoá tốt hoặc xấu đối với cơ thể con người theo quy luật sinh khắc ngũ hành. Do đó đông y kết luận cây cỏ nào cũng đều là cây thuốc .Có những cây chúng ta đã biết, có những cây chúng ta chưa biết còn đang nghiên cứu.

Theo định nghĩa tổng quát của đông y, thức ăn hay thuốc uống cũng đều là thuốc đi vào cơ thể bằng ba yếu tố tính-khí-vi .

Vị là một chất dẫn thuốc đi vào tạng phủ, có 5 vị khác nhau như mặn, ngọt, chua, cay, đắng. Vị mặn đi vào thận và Bàng quang, vị ngọt đi vào bao tử và lá lách, vị chua đi vào gan mật, vị cay đi vào phổi và ruột già, vị đắng đi vào tim và ruột non. Vị có đậm có nhạt, vị đậm gọi là hậu, thì tạo ra tính thẩm thấu vào tạng phủ nhiều hơn, vị nhạt gọi là bạc, thì thuốc thấm vào nhẹ hơn, còn tác dụng tốt hay xấu của thức ăn hay thuốc uống lệ thuộc vào tính và khí của chất đó.

Tính của nó là làm cho cơ thể tăng sức nóng ấm thì gọi là tính nhiệt. Nếu nó làm cho cơ thể mất sức nóng thì gọi là tính hàn.

Khí của thức ăn hay thuốc uống giúp cho cơ thể sau khi hấp thụ sẽ tạo ra khí lực vận chuyển trong cơ thể làm cho khỏe lên hay yếu đi ( bổ hay tả ),làm khai thông chỗ bế tắc, làm cho khí huyết hòa hoãn, làm tiêu sưng, làm cho đi lên, đi xuống, đi vào trong, đi ra ngoài, đông y gọi là bổ, tả, hòa, thông ,tiêu, thăng, giáng, liễm, xuất...

Trong qúa trình sử dụng thuốc cây cỏ để tươi dùng ngay, hay phơi khô thì gọi là thuốc nam,( thuốc của người Việt Nam, người Hoa gọi là dược thảo ), có cái lợi là những hoạt chất của thuốc còn đủ chưa bị biến mất, công hiệu của thuốc mạnh hơn, hữu hiệu hơn, nhưng nếu cây cỏ để lâu mới dùng đến thì tính khí của thuốc sẽ bị mất cho nên chúng cần phải được sao chế để bảo quản, sau khi sao chế chúng trở thành thuốc bắc. Tên gọi thuốc bắc là do người Trung quốc ở phương bắc nước ta có kỹ thuật chế biến thuốc sống thành thuốc chín, có nghệ thuật và kỹ thuật chế biến độc đáo riêng, có thể làm cho một chất có độc mạnh trở thành ít độc, chất thuốc ít khí vị trở thành chất thuốc mạnh có nhiều khí vị hơn. Cách sao chế có thể tạo ra được nhiều công dụng chữa bệnh khác nhau do sự thay đổi tính-khí-vị của thuốc nguyên thủy.

Thí dụ như cỏ cú có nhiều công dụng tùy theo cách sao chế :

Cỏ cú tên thông dụng gọi là hương phụ, là loại củ mọc ở bãi biển, củ mập to chắc, ruột hồng nhạt, có mùi thơm. Khi dùng phải phơi thật khô, gĩa với trấu bằng chầy nhọn cho trụi hết lông .Khí của nó là chất chính dùng điều khí, khai uất, thông kinh, hóa đờm, tiêu tích ứ, bổ khí huyết. Người xưa chế biến nó rất công phu gọi là hương phụ tứ chế. Dùng 1 kg hương phụ sống chia 4 phần, một phần tẩm 200ml dấm, một phần tẩm 200ml đồng tiện ( nước tiểu nhi đồng ), một phần tẩm 200ml dung dịch muối 15%, một phần tẩm 200ml rượu 40 độ.

Mỗi phần tẩm xong để một đêm, rồi giã dập, sao khô có mùi thơm là được, phải cất trong lọ kín và chỉ dùng được trong 2-3 tuần mà không để lâu được. Nhưng qua kinh nghiệm của nhiều bậc danh y cổ đại, có nhiều cách chế biến và phối hợp với chất khác để chữa nhiều bệnh khác nhau như :

  • Muốn cho khí dẫn lên ngực dùng sanh hương phụ ( hương phụ sống ).
  • Muốn dẫn khí đi xuống gan thận dùng thục hương phụ ( hương phụ chế chín ).
  • Muốn cầm liễm không cho ra máu thì rang hương phụ cho khét.
  • Muốn bổ huyết hư thì rang sơ hơi vàng.
  • Muốn chữa huyết, nhuận táo thì ngâm nước muối nhạt rồi rang sơ.
  • Muốn bổ thận khí thì rang với muối hột.
  • Muốn thông kinh hoạt lạc thì ngâm rượu rồi rang.
  • Muốn tiêu tích tụ thì ngâm dấm rồi rang.
  • Muốn tiêu đờm thì rang với nước gừng.
  • Rối loạn tiêu hóa, bụng đầy đau thì dùng 4g hương phụ + 8g riềng khô. Hai thứ tán bột uống với nước nóng...
  • Muốn điều kinh bổ huyết thì dùng hương phụ với ngải cứu .

Vì thế một thầy thuốc đông y phải biết đến tính-khí-vị của thuốc hay của thức ăn, xem thuốc dẫn vào đâu, dẫn vào mạnh hay nhẹ, nhiều hay ít, làm cơ thể nóng hay lạnh, nóng nhiều làm táo bón khô khát, lạnh nhiều làm tiêu chảy sưng phù, khí của thuốc là bổ hay tả, hòa, thông, tiêu, thăng giáng, liễm, xuất. Ngược lại, thầy thuốc cũng có thể nếm thuốc để phân biệt tính-khí-vị của thuốc mà bệnh nhân đã uống để biết họ đang uống thuốc chữa bệnh gì, và bắt mạch xem thuốc đó có phù hợp trúng với bệnh tình không.

Áp dụng cách phân tích tính-khí vị của một chất thuốc vào tây y chúng ta thấy cũng có những điểm tương đồng, chẳng hạn như thuốc trị đau bao tử có công hiệu của tây y là Malox , Magnésium.

Malox thành phần chính của thuốc là cam thảo. Theo đông y, vị ngọt dẫn thuốc vào bao tử, tính làm trung hòa giải các thứ độc, khí làm điều thông khí huyết, có tính thăng khí, dùng nhiều sẽ làm cho tăng áp huyết.

Magnésium là loại bột vị ngọt nhạt dẫn vào bao tử, tính hàn, hòa hoãn, tráng vách thành bao tử để chữa loét, khí đi xuống đẩy phân ra .

Tuy nhiên có những công ty bào chế dược phẩm đã tăng thành phần chính của thuốc nhiều hơn các hãng khác hy vọng nó hiệu nghiệm hơn, mùi vị cũng khác, nhưng không để ý đến chất dẫn theo quy luật là vị ngọt, mà đổi thành vị cay sẽ dẫn thuốc vào phổi, vị đắng sẽ đem thuốc vào tim, vị chua sẽ đem thuốc vào gan, vị mặn sẽ đem thuốc vào thận. Phổi, tim, gan, thận, không cần magnésium tự nhiên bị chất thuốc bám vào làm tắc nghẽn sinh phản ứng phụ như khó thở, mệt tim, sưng phù...còn thuốc không được dẫn vào bao tử nên bao tử vẫn chưa được chữa.

Nói như vậy thì dù thuốc là đơn chất để chữa một tạng phủ hay một chỗ, hoặc hợp chất để chữa hai hay nhiều tạng phủ, hoặc hợp chất là một món ăn thức uống, đông y lúc nào cũng chú trọng đến tính-khí-vị trong mục đích chữa bệnh để điều hòa sự khí hóa chung cho cơ thể, và cách chữa thì áp dụng theo tám phương pháp căn bản của đông y ( bát pháp ), tùy theo sự chọn lựa phương pháp chữa của thầy thuốc mà đông y chia hạng thầy thành ba bậc. Bậc hạ công thì chữa ngọn, thấy kết qủa ngay, kiếm tiền dễ, mau nổi tiếng, nếu có biến chứng sang bệnh khác lại chữa tiếp bệnh khác, đó là cách chữa bá đạo, nuôi bệnh đi vòng vòng. Bậc trung công vừa chữa ngọn vừa chữa gốc, là cách chữa y đạo. Bậc thượng công gọi là thầy thuốc chữa khi chưa bị bệnh, có nghĩa là khi khám bệnh chẩn mạch cho một người họ cảm thấy có những biến đổi âm thầm trong cơ thể tây y tìm không thấy bệnh, nhưng bậc thượng công bắt mạch biết được hư thực của một tạng nào đó, nếu không chữa ngay nó sẽ truyền sang tạng khác thành hai tạng cùng bị bệnh, thí dụ khám biết tạng gan thực sau nó sẽ hại tạng tỳ nên bậc thượng công phải giúp tỳ mạnh lên, và làm cho tạng gan yếu bớt, đó là cách chữa khi chưa bệnh. Bậc thượng công phải vừa chữa ngọn, vừa chữa nguyên nhân gốc, vừa ngừa biến chứng. Chữa theo cách này bệnh nhân sẽ hết bệnh, không bị tái phát, không cần phải trở lại gặp thầy thuốc, thế gian gọi là thầy có tiếng mà không có miếng, đó là cách chữa vương đạo.

B-Áp dụng tiêu chuẩn Bát pháp :

Cơ thể bị bệnh đều phải khám theo tứ chẩn, quy kinh chẩn pháp, xác định bằng huyệt trên lưng và các nguyên huyệt, tả huyệt trên các đường kinh ,để định được bệnh thuộc kinh nào,chứng âm hay dương, về khí hay huyết, bị hư hay thực, cơ thể hàn hay nhiệt, bệnh mới phát còn ở biểu hay đã vào lý, theo tiêu chuẩn Bát cương ( âm, dương, hư, thực, hàn, nhiệt, biểu, lý), từ đó mới quyết định lập ra một trong tám phương pháp đối chứng trị liệu là Bát Pháp gồm có : Ôn, trấn, thanh, hòa, xuất, liễm, bổ, tả. Thí dụ như trong bát cương, bệnh thuộc âm là huyết bị bệnh, thì đối chứng trị liệu theo bát pháp là phải dùng dương thuộc khí để chữa âm, ngược lại dương bệnh thuộc khí, phải dùng âm thuộc huyết để chữa. Hư thì đối chứng trị liệu phải dùng phép bổ. Thực thì đối chứng trị liệu phải dùng phép tả. Bệnh thuộc hàn, đối chứng trị liệu phải dùng phép ôn là làm cho ấm nóng. Bệnh thuộc nhiệt đối chứng trị liệu phải dùng phép tả, nếu bệnh còn ở biểu thì cho xuất mổ hôi nhiệt (xuất hãn), nếu bệnh trong lý phải cho mát gọi là thanh nhiệt. Bệnh tà khí vào đến bên trong tạng phủ thì chia thành ba vùng mà bệnh cư trú như thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu, nếu bệnh còn ở thượng tiêu phải cho ói mửa ra gọi là thổ, ở trung tiêu phải cho hòa giải, ở hạ tiêu phải cho hạ tống tà khí ra ngoài bằng tiêu tiểu. Nếu bệnh đau nhức thì phải dùng phép trấn thống thần kinh (giảm đau). Nếu bệnh hư thoát khí, huyết, mồ hôi phải giữ không cho mất thêm bằng phép liễm khí, cầm huyết, cầm mồ hôi, nếu thoát tinh phải giữ lại gọi là cố tinh bổ thận..Còn nếu bệnh do lục khí của thời tiết như phong, hàn, thủy, thấp, táo, nhiệt, đối chứng trị liệu cần phải tả, có tên riêng gọi là khu phong, tán hàn, trục thủy, lợi thấp, nhuận táo, tán nhiệt...

1-Cách sử dụng phương pháp ôn :

Ôn là làm ấm, nóng, sử dụng ngoại dược hay huyệt nội dược để chữa các bệnh đã làm cho cơ thể bị lạnh như phong hàn, thấp hàn, hư hàn, khí hư, hàn đàm hoặc dương hư, nhiều đàm nhớt.

Nếu cơ thể mới bị hàn tà xâm phạm thì dùng phép ôn, nếu qúa hàn, thì không chữa theo ôn bổ, mà phải nhiệt bổ có nghĩa là dùng phép ôn mạnh hơn gọi là phép tăng nhiệt.

Nếu hàn ở thượng tiêu phải làm ấm phổi (như bệnh ho suyễn hàn).

Nếu bệnh hàn ở trung tiêu phải ôn trung hay lý trung tiêu (làm ấm tỳ vị, như bệnh tỳ vị hư hàn, ăn không tiêu, không chuyển hóa, đông y có bài thuốc lý trung thang gồm 4 vị là nhân sâm, càn cương, bạch truật, cam thảo).

Nếu bệnh ở hạ tiêu bị hư hàn (như đau bụng, tiêu chảy, tiểu nhiều..)phải tăng nhiệt phục hồi dương khí như phép hồi dương cố thoát, đông y có bài thuốc tứ nghịch thang gồm 3 vị là chích thảo, càn cương, sanh phụ tử).

Chống chỉ định :Thoát huyết, huyết hư, âm hư sinh nội nhiệt thì không được dùng phép ôn.

2-Cách sử dụng phương pháp trấn :

Trấn là trấn áp, tác động trực tiếp lên hệ thần kinh làm cho giảm đau nhức gọi là trấn thống thần kinh, hoặc làm cho không sợ hãi gọi là định tâm an thần, đôi khi đau nhức do tuần hoàn khí huyết bị bế tắc chỉ cần giải khai chỗ bế tắc cho thông cũng sẽ hết đau, hoặc hỏa khí, hoặc đờm, hay can khí nghịch lên trên cần phải trấn áp không cho lên mà đè xuống cũng gọi là phép trấn.

3-Cách sử dụng phương pháp thanh :

Thanh hoặc lương là làm mát chữa các chứng nóng thuộc ôn nhiệt gồm hai loại nhiệt : thực nhiệt và phiếm nhiệt.

Trị nóng thực nhiệt cần phải tiết tả nhiệt trong trường hợp sốt nóng hừng hực.

Trị nóng phiếm nhiệt là nóng hâm hấp, lan tỏa không dữ dội, không cần phải tả hạ nhiệt nhanh, mà chỉ cần thanh nhiệt làm mát, cả hai cách đều là thanh, đông y gọi là thanh nhiệt, thanh khí, thanh huyết nhiệt giải độc, lương huyết nhiệt (làm mát máu).

Chống chỉ định : Không được dùng phép thanh trong bệnh hư nhiệt cũng làm sốt nóng, hư cần phải bổ, phải dùng phép ôn bổ, nếu dùng phép thanh là sai lầm sẽ làm bệnh hư thêm .

Nếu bệnh nóng sốt ít thì thanh nhiệt ít không được tả nhiệt nhiều, nếu không bệnh nhân bị lạnh, trong trường hợp sau khi thanh nhiệt bệnh nhân hết nóng sau đó lại bị nóng trở lại là trong người còn có phong tà chưa ra hết, cần phải đuổi phong ra (gọi là khu phong, trục phong), phải chọn huyệt khu phong thanh nhiệt...

4-Cách sử dụng phương pháp hòa :

Hòa là hòa giải sự xung khắc lẫn nhau trong trường hợp bệnh bán biểu bán lý, chỉ thanh nhiệt mà không cho ra mồ hôi, trong trường hợp nghi ngờ bệnh hư thực thác tạp, giữa âm dương tương tranh, hàn nhiệt vãng lai, những trường hợp bệnh ở trung tiêu không thể dùng bổ, cũng không dùng được tả, không dùng được phép xuất, cũng không dùng được phép liễm, lúc đó phải dùng phép hòa giải, bao gồm cả phép khai thông chỗ bế tắc, phép thăng đưa khí lên khi khí bị hạ hãm, và phép giáng khi khí bị thượng nghịch hoặc bị ngăn chặn không xuống được.

5-Cách sử dụng phương pháp xuất :

Xuất là làm cho tà khí ra da bằng đường mồ hôi, đông y gọi là phép hãn.

Xuất cho ra ngoài bằng miệng, làm cho ói mửa thức ăn, đông y gọi là phép thổ.

Xuất cho ra ngoài bằng đường phân, đường tiểu, đông y gọi là phép hạ.

Nguyên nhân gây bệnh trong đông y bao gồm nguyên nhân không do vi trùng như phong thấp đau nhức hoặc do vi trùng, vi khuẩn, siêu vi, virus..làm ra bệnh, đông y đều gọi chung là tà khí. Khi chữa bệnh đông y chỉ chú trọng đến nguyên tắc tái lập lại quân bình âm dương khí huyết, cơ thể sẽ tự điều chỉnh cho khỏi bệnh.

a- Phép hãn : ( Cho xuất mồ hôi ).

Khi tà khí còn ở ngoài, như trong bệnh biểu nhiệt, sốt nhiệt, ngoại cảm phong, hàn, thực nhiệt, bệnh thủy thủng, ban chẩn, và bệnh còn ở trên thượng tiêu chưa vào đến trung tiêu.. cần phải đuổi tà khí ra khỏi da lông bằng đường mồ hôi để tà khí không xâm nhập sâu vào cơ thể trong tạng phủ .Phát hãn mạnh trong bệnh ngoại cảm hàn, thấp hàn. Chứng phong, hỏa, thử, và táo, chỉ phát hãn nhẹ cho da vừa rịn mồ hôi là để đuổi tà khí ra mà không làm mất nước cơ thể, trong bệnh cảm nhiệt, thấp nhiệt.

Chống chỉ định : Không dùng phép hãn khi cơ thể hư nhược, gầy yếu, tân dịch khô khan( không có nước miếng, nước bọt), da lông khô, môi họng khô, mặc dù có sốt nhưng sốt âm ra mồ hôi trộm, bệnh đã vào đến trung tiêu làm đau bụng quanh rốn như sôi bụng, nếu phát hãn gây ra biến chứng nguy hiểm.

b- Phép thổ : ( Cho mửa).

Phép thổ là làm cho nôn mửa ra những thức ăn có độc hoặc những thức ăn lâu ngày không tiêu hóa còn giữ lại trong bao tử, hoặc đờm chặn cổ họng không xuống được khiến hay nôn oẹ muốn ói mà không ói ra được, hoặc nó làm khó thở, ngực đầy, uất nghẹn thượng tiêu. Khi cơ thể muốn ói là chính khí ở trung tiêu còn mạnh, muốn đẩy tà khí ra không cho xâm nhập sâu vào cơ thể là một phản ứng tự động, cho nên trong cách chữa bằng phép thổ là giúp cơ thể tống tà khí ra không cho tà khí đi xuống sẽ hại đến trung tiêu là trường vị. Đông y thường sử dụng thuốc ngoại dược gây mửa ,có 5 loại gây mửa khác nhau :

-Do bao tử hàn hoặc thức ăn hàn, phải dùng thuốc làm ấm như gừng, quế.

-Do bao tử nhiệt hoặc thức ăn nhiệt, phải dùng thuốc mát như khổ trà, chi tử.

-Do dùng thức ăn để lâu hư thối, có độc, ăn không tiêu, muốn mửa không ra được, phải dùng nước muối hay bột cải.

-Do đờm nhớt chặn họng khó thở, cho mửa bằng nước vỏ quít.

-Do bao tử đầy hơi làm nghẹn thở, cho mửa bằng chỉ thiệt, hậu phác.

Chống chỉ định : Không được cho mửa trong trường hợp người có cơ thể suy nhược, người già, phụ nữ có thai, người bị khí hư, mạch hoãn, băng huyết.

c-Phép hạ : (Cho thoát xuống dưới )

Phép hạ là đuổi tà khí ở hạ tiêu ra khỏi cơ thể bằng cách cho xổ phân và nước tiểu trong trường hợp trường vị tích trệ, tích nhiệt, tích độc sinh ra sốt nhiệt, hoặc bón lâu ngày, hoặc trường vị căng cứng đầy ăn không vào, hoặc kiết lỵ, hoặc mỗi lần đi cầu lỏng ra phân xanh kèm đau vùng bao tử là do tà khí còn tích ở trường vị chưa ra hết. Đông y thường sử dụng bài Thừa khí thang (Tiểu thừa khí, đại thừa khí, điều vị thừa khí thang).

Chống chỉ định : Không được cho xổ trong bệnh không thuộc bệnh tích trệ trường vị, bệnh nhân muốn ói không được cho xổ, cơ thể yếu thiếu hơi, thiếu khí, mạch vô lực, chứng âm hư tân dịch khô cạn, ăn uống ít, bao tử yếu, nhu động ruột không co bóp đẩy phân ra lầm tưởng là bón (bón giả), hoặc phân ra nhão ít một thuộc bệnh trường ung ( ung thư ruột ), liệt ruột, tiêu chảy hay bón giả tức là hai ba ngày thậm chí một tuần mới đi cầu một lần đi phân nhão lỏng là do thiếu khí đẩy phân ra.

Trong trường hợp bắt buộc phải dùng phép hạ thì bệnh hư sẽ hư thêm, nên phải tả hạ ít hơn, bổ hư nhiều hơn cho chính khí mạnh mới giúp bệnh mau bình phục.

6- Cách sử dụng phương pháp liễm :

Ngăn giữ không cho thoát mất tinh, khí, huyết, thủy dịch làm mất nước trong bệnh toát mồ hôi đầm đìa, tiêu chảy không ngừng, máu chảy nhiều, xuất tinh di tinh mộng tinh.

Liễm hay sáp là cầm giữ làm ngăn lại sự thoát mất tân dịch có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo trường hợp :

  • Liễm : như chứng đổ mồ hôi không cầm lại được phải liễm mồ hôi, chứng thoát khí phải liễm khí.
  • Cố : là củng cố, duy trì, gìữ lại, trong phép hồi dương cố thoát ,chứng thoát tinh phải cố tinh bổ thận.
  • Cầm : chứng băng lậu xuất huyết chảy máu phải cầm máu, chứng đái iả tiêu chảy không ngừng phải cầm tiêu chảy...

Phương pháp liễm tùy theo chứng bệnh để liễm, sáp, cầm, cố có thể sử dụng huyệt bổ, có thể dùng huyệt tả để đạt được mục đích.

7- Cách sử dụng phương pháp bổ :

Bổ là phương pháp phục hồi hư tổn trong các bệnh thuộc hư chứng để làm cho cơ sở hay chức năng của tạng phủ mạnh lên giúp mau khỏi bệnh. Bổ có nhiều tên gọi tùy mỗi trường hợp khác nhau và bổ ở mỗi người mỗi khác theo nguyên nhân và xét theo hư thực :

  • Tuấn bổ : Bổ mạnh đối với bệnh hư nhiều.
  • Tư bổ : Bổ từ từ áp dụng trong bệnh mới hư nhẹ.
  • Điều bổ : Vừa chữa bệnh vừa bổ áp dụng trong trường hợp người vốn hư yếu nay lại bị một bệnh khác như cảm mạo, phải vừa chữa bệnh vừa bổ hư gọi là điều bổ.
  • Tiếp bổ : là bổ thêm âm hoặc bổ thêm dương, một trong hai. Như bổ khí hư làm cho tỳ và vị mạnh.
  • Dưỡng âm, tư âm : là bổ hư tổn phần âm.
  • Lương huyết : vừa bổ vừa làm mát máu gọi là lương huyết.
  • Hành khí, hoạt huyết : Làm cho khí huyết chạy trơn tru không trở ngại.
  • Ôn dương, thanh dương : là bổ hư tổn phần dương cho ấm lại hoặc cho mát lại.
  • Lý khí : Điều chỉnh, chấn chỉnh lại sự khí hóa , cho tạng phủ hoạt động mạnh hơn, tốt hơn.

Bệnh thực không được bổ, nếu không tà khí sẽ mạnh thêm khiến cho bệnh nặng hơn. Ngay cả trường hợp người vốn suy nhược lại mắc bệnh cảm, nếu chỉ bổ thì tà khí mạnh hơn chính khí sẽ làm cho bệnh nặng thêm, trường hợp này phải vừa tả tà khí vừa bổ chính khí.

Nhưng hãy coi chừng bệnh gốc là cực hư tương phản với dấu hiệu lâm sàng lầm tưởng là thực như mạch phù đại, mặt đỏ tối mà váng đầu, cần phải bổ không được tả làm hư thêm hư.

Nếu bệnh thủy hư có dấu hiệu môi miệng da khô không bổ thủy mà bổ hỏa càng làm mất thủy, hoặc ngược lại đáng bổ hỏa hư có dấu hiệu người lạnh, tiểu nhiều nước trong, da phù láng bóng, lại lầm bổ thủy làm thủy dập tắt mất hỏa thêm.

Áp dụng phương pháp bổ phải đúng nhu cầu của tạng phủ, chữa thuốc phải đúng với bệnh mới hết bệnh. Nhiều người sai lầm khi cảm thấy yếu hơi sức, mệt mỏi ăn uống không được nên đã lạm dụng thuốc bổ sâm nhung làm cho tỳ vị vốn đã hư thêm hư, sinh no hơi sình bụng, tức ngực, khó thở, mệt tim, xáo trộn áp huyết. Thực ra nguyên nhân của bệnh là tỳ vị hư hàn.

8- Cách sử dụng phương pháp tả :

Tả là làm yếu đi, mất đi, đuổi đi, mục đích của cách dùng khác nhau nên có nhiều tên gọi khác nhau như :

Trong trường hợp bón uất nhiệt từ ba ngày trở lên ở hạ tiêu. Dùng thanh nhiệt ở tạng phủ, ở trường vị, ở bàng quang, tả độc tích tụ, miệng họng khô, kiết lỵ, bao tử đầy cứng. Tả xong phải bổ hư tổn.

Chống chỉ định : Không được dùng phép tả trong trường hợp âm hư, tân dịch khô kiệt, vô lực yếu sức, ăn ít, thiếu khí.

Tả thực : Khi sự khí hóa của đường kinh, qúa mạnh, hoặc có tà khí lưu trú ở tạng phủ, cần phải sử dụng huyệt tả trong ngũ du huyệt của đường kinh.

Tiết nhiệt : Khi tạng phủ có nhiều tà nhiệt làm hại đến tạng phủ khác, cần phải làm cho mất tà nhiệt của tạng phủ ấy đi thì gọi là tiết, khác với phép hãn là cho xuất mồ hôi ra ngoài cơ thể, thường tả huyệt vinh hỏa, hoặc bổ huyệt vinh thủy .

Trục hàn, tán hàn : Khi cơ thể có hàn tà ở thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu làm cho đầu lạnh, tay lạnh, chân lạnh, bụng lạnh..cần phải đuổi hàn tà cho mất đi hoặc đi chỗ khác, gọi là trục hàn, tán hàn, thường tả huyệt vinh thủy hoặc bổ huyệt vinh hỏa.

Khu phong ,trục phong : Khi cơ thể bị phong tà do môi trường, thời tiết lục dâm làm co rút gân cơ, bế tắc kinh mạch khiến sưng đau tê nhức, cần phải đuổi phong tà đi để cho kinh mạch được thông , gọi là khu phong ,trục phong.

Khử thấp : Khi cơ thể có thấp tà cần phải đuổi thấp bằng cách cho rịn mồ hôi chứ không phải cho xuất hãn gọi là khư, khứ, hoặc khử thấp.

Hóa tích, hóa ứ, hóa đờm : Khi cơ thể có một chỗ nào đó bị tắc nghẽn do huyết tụ, hoặc đờm tụ làm trở ngại sự tuần hoàn của kinh mạch, cần phải làm cho nó tan biến đi ra chỗ khác hoặc cho biến mất đi, gọi là hóa.

Tiêu trệ :Tiêu dùng trong trường hợp người hư nhược có nhiệt tà, không bổ không tả được phải dùng phép tiêu, làm cho tiêu mòn dần những vật tích tụ như làm tiêu đàm, tiêu thức ăn, tiêu khí tích, huyết tích, tiêu khối trưng hà ( một loại bướu tử cung), sán khí, loa lịch (một loại bướu cổ) gây khó thở, nặng bụng, căng tức, đầy hơi, ngăn nghẹn không được thông, cần phải làm cho mất tình trạng ấy đi gọi là tiêu. Bệnh có thực có hư, thực thì tả, hư thì bổ.

Chống chỉ định : Bướu chai mà khí hư, tỳ suy ăn không tiêu, hoặc huyết hư làm cho thịt da chai sần sùi không được dùng phép tiêu, vì là bệnh thuộc hư cần phải bổ khí, bổ tỳ huyết.

Giải biểu hàn, biểu nhiệt : Trong trường hợp bị ngoại cảm, phải đuổi hàn tà, nhiệt tà ra khỏi cơ thể không cho xâm nhập lấn sâu vào phần lý gọi là giải biểu.

C-Áp dụng quy luật quân bình :

Xét bệnh theo đông y hay tây y, khi cơ thể bị bệnh có nghĩa là cơ thể đã mất quân bình về khí huyết do dư thừa hay thiếu đi một chất nào đó, thí dụ như dư đừờng, dư cholestérol, dư chất sắt, dư chlor, dư natri, dư calcium, thiếu calcium, thiếu máu, thiếu khí lực .. Cách chữa của tây y là dùng thuốc để loại bỏ chất dư thừa hoặc bổ sung chất thiếu. Thử nghiệm máu trước và sau khi điều trị thấy kết qủa tốt, thay vì ngưng không dùng thuốc nữa thì bệnh lại tái phát, cho nên phải dùng thuốc suốt đời không dám bỏ.

Khác với tây y, đông y chữa bệnh tức là điều chỉnh lập lại sự quân bình hòa hợp của tổng thể ngũ hành, khi hết bệnh có thể bỏ thuốc chứ không nên tiếp tục lạm dụng thuốc sẽ trở thành mất quân bình gây ra biến chứng thành một bệnh khác, thí dụ như :

1-Nếu lạm dụng thuốc chữa bệnh cao áp huyết :

Như áp huyết đã hạ bình thường mà tiếp tục hạ nữa sinh bệnh khác, mất máu não, đi lảo đảo, té ngã sinh bại liệt chân tay mềm nhũn, thay vì cao áp huyết qúa sẽ đứt gân máu sinh liệt co cứng tay chân. Những biến chứng của việc lạm dụng thuốc chữa bệnh cao áp huyết như suy tim do thuốc giãn mạch, suy hô hấp do thuốc giãn mạch và thuốc chẹn dòng giao cảm, suy thận mãn tính do hạ áp huyết và thuốc lợi tiểu, lách to do thuốc phong bế giao cảm, đau lưng nhức mỏi, phong thấp khớp, bị bệnh tiểu đường do thuốc lợi tiểu, gỉảm áp huyết ở thế đứng do thuốc và do ăn uống, biến chứng hạ áp huyết ở thế đứng và thuốc hạ đường-huyết làm hại mắt, phù gai thị do thuốc giãn mạch và cuối cùng bị tai biến mạch máu não do dùng thuốc không hợp lý sẽ bị hôn mê do một trong ba nguyên nhân xuất huyết não, khối máu tụ trong não, hoặc nhũn não.

2-Nếu lạm dụng thuốc chữa bệnh tiểu đường :

Dư đường trong máu, đường sẽ biến thành men khiến cho máu nóng ẩm thấp làm hư hỏng da sinh bệnh hoại tử phải cưa tay chân, đường nhiều làm tăng nồng độ máu gây tăng áp huyết, suy thận nên tuyến thượng thận không sản suất insulin để làm giảm lượng đường trong máu, lúc đó cơ thể cần phải được bổ sung insulin từ ngoài vào để hạ đường, nhưng ngược lại nếu lạm dụng thuốc hạ đường hoặc kiêng cữ không ăn đường khiến cơ tim không co bóp sẽ bị suy tim, nhồi máu cơ tim làm chết người.

3-Nếu lạm dụng thuốc calcium :

Tùy theo loại calcium nào, dạng bột, dạng nước, dạng sủi bọt, dạng thiên nhiên có trong thực phẩm như mè đen, đậu nành, rau brocoli, fromage...

Nếu dư calcium khiến áp huyết tăng, thân nhiệt tăng, sưng tuyến giáp trạng. Riêng thuốc viên bột calcium làm xương khô dòn dễ gẫy và mòn sụn ở khớp đầu gối do ma xát đi lại nhiều, sống lưng bị cứng, các đĩa đệm bị khô, thận và bàng quang có sạn do dư thừa chất vôi bột trong thận, trong máu làm cho máu đặc, mà thật ra xương cũng vẫn xốp do cơ thể không hấp thụ và chuyển hóa.

Chất xúc tác để chuyển hóa thức ăn thành máu, sinh tinh, hoá tủy để nuôi xương, còn giúp xương cứng chắc bền dẻo là nhờ chất lân, xương sẽ không bị xốp và bị dòn dễ gẫy. Chất lân có trong chuối, trong cá, dân tộc Việt nam ta xưa kia không biết đến viên thuốc calcium là gì, chỉ cần theo thói quen tự nhiên sau mỗi bữa cơm thì ăn một qủa chuối tráng miệng, trong bữa cơm thường có đậu hũ, cá, tép rang, cá cơm đều là những chất giúp bổ xương, ngoài ra thức uống có chất bổ xương là sữa đậu nành. Trong trường hợp chúng ta có ăn những thức ăn kể trên mà vẫn bị xốp xương thì đông y điều chỉnh lại hệ thống chuyển hóa ở chức năng tuyến thượng thận chứ không uống calcium để bổ xương, hệ thống chuyển hóa cần vitamine A,D, chất lân có trong dầu cá, trong rau và nhờ ánh nắng mặt trời giúp chuyển hóa A,D, chất lân, để cho xương cứng chắc, nếu hệ thống chuyển hóa trong cơ thể hư hỏng thì dù có uống calcium nó cũng không chuyển hóa được calcium vào xương cho nên các khớp bị đóng vôi và trong máu có thừa chất vôi, còn xương vẫn xốp. Như vậy có nghĩa là bổ xương bằng chất vôi loại viên bột không có lợi cho sức khỏe. Có loại calcium dạng lỏng dùng để chích tan trong máu mà tây y thường dùng để cấp cứu cho những người bị phản ứng khi chích péniciline bị lạnh rét, thân nhiệt hạ nhanh gây co cứng toàn thân, lúc đó chúng ta mới biết tính dược của calcium là làm cho cơ thể phục hồi thân nhiệt nhanh. Chúng ta thử suy nghĩ và thắc mắc tự hỏi, nếu thực sự cơ thể cần calcium để bổ xương, tại sao không dùng thuốc chích, có lợi hơn là thuốc viên bột, để tránh phản ứng phụ là mòn khớp xương, bị sạn thận, hoặc nhiều cặn do ăn mặn trong bệnh cao áp huyết làm dư thừa Natri tạo ra phản ứng kết tủa vôi đóng thành sạn ở bàng quang. Trong các quân y viện ở Việt nam các thương binh thường dùng loại calcium chích không phải để chữa xốp xương, mà để giúp mau lành các chỗ xương bị gẫy, giúp cho tuần hoàn máu, chống loãng máu, và tăng thân nhiệt, nếu lạm dụng chích nhiều áp huyết sẽ tăng làm đứt mạch máu não. Trong bệnh lao phổi cũng cần đến calcium để làm ấm phổi, mau lành vết thương trong phổi chứ không phải để làm cứng xương, nếu nó có thể làm cứng xương thì nó cũng có thể làm cho cứng các xoang phổi không thở được. Ở bắc Mỹ chúng ta có loại rau brocoli chứa nhiều calcium thuộc dạng dễ hấp thụ và chuyển hóa, không bị đóng cặn, không bị tăng thân nhiệt và không bị táo bón như dùng thuốc calcium viên bột.

4-Nếu lạm dụng uống nhiều nước một lần :

Đau lưng, cột sống bị chèn ép, đau sưng đầu gối, ung thư ruột gìa do nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có một nguyên nhân do uống nhiều nước thì ít ai biết đến. Thể tích chứa của trực trường có giới hạn an toàn khoảng 250cc, nếu uống một hơi nửa lít hoặc 1 lít làm cơ co bóp của nhu động ruột giãn nở quá mức sinh liệt ruột mất tính đàn hồi, sẽ bị sa xệ chèn ép động mạch háng gây tắc tuần hoàn khí huyết đi xuống chân nuôi chân đùi gối và kéo căng dây thần kinh cột sống khiến đau lưng, thoái hoá đĩa đệm.

D- Áp dụng tính hợp lý :

Cách dùng thuốc cũng phải hợp lý, có tính logic .Một loại thuốc dùng để chữa bệnh như nhức đầu, đau bụng, mụn nhọt ghẻ lở.. bác sĩ cho toa mua thuốc uống đến khi khỏi bệnh thì thôi không cần phải uống nữa, đó là thuốc trúng bệnh, chứ không có vị bác sĩ nào dặn bệnh nhân cứ tiếp tục uống suốt đời để ngừa bệnh tái phát. Ngược lại thuốc uống trị cao áp huyết, tiểu đường cứ phải uống suốt đời như vậy thì thuốc đó không trúng bệnh, không phải để chữa bệnh mà chỉ có tính chất ngừa bệnh. Tây y chúng ta tin là giỏi không thể chối cãi được sự tiến bộ vượt bực của ngành y khoa, cũng vì thế mà chúng ta cho rằng tây y đã không chữa được bệnh cao áp huyết, tiểu đường, phong thấp khớp, loãng xương, cancer là những bệnh nan y, thì không thể nào có ngành y khoa nào khác chữa được, thế là chúng ta đành bó tay buông xuôi chờ đợi những rủi ro không tránh khỏi khiến chúng ta phải mang tật nguyền hoặc bị chết trong oan uổng, trái với tinh thần cầu sống của dân tộc Á đông ‘’còn nước còn tát’’ .

Trên thế giới mặc dù các quốc gia đều áp dụng tây y theo tiêu chuẩn quốc tế toàn cầu, nhưng ngoài ra, mỗi quốc gia vẫn còn duy trì và tồn tại ngành y học truyền thống mà không vứt bỏ, chứng tỏ nó còn hữu dụng và cần thiết để bổ sung cho tây y, và dần dần được khoa học khám phá ra những kết qủa đối chứng lâm sàng, cái hay sẽ được tây y hóa thành một môn y khoa tổng hợp sẽ đem lại nhiều lợi ích cho nhân loại.

Chúng ta nói còn nước còn tát ở đây, có nghĩa là Tây y bó tay bảo chúng ta chờ cái chết đến thì chúng ta còn có đông y, đông y bó tay thì còn khoa chữa bệnh bằng thức ăn, bằng tập khí công, bằng phương pháp thiền..Theo lý thuyết đông y, bệnh tật con người đều do xáo trộn khí huyết bởi ba yếu tố tinh-khí-thần dẫn đến bệnh nặng nhất mà tây y bó tay là cancer. Yếu tố tinh là do lạm dụng cách ăn uống không thanh đạm mà nhiều béo bổ, lạm dụng nhiều thuốc chữa nhiều bệnh lặt vặt của nhiều bác sĩ cho cùng một lúc khiến cho cơ thể là một thùng rác chứa nhiều độc tố, nhiều thuốc tương phản đố kỵ nhau cho ra phản ứng hóa học bất lợi gây xáo trộn thần kinh và hệ nội tiết khiến hệ miễn nhiễm suy nhược. Yếu tố khí là hơi thở vận động để chuyển hóa thức ăn thuốc uống thì không chú ý tới vì công ăn việc làm bận rộn, ăn không có thì giờ nghỉ ngơi, hoặc làm biếng , do đó yếu tố khí suy giảm không giúp cho cơ thể chuyển hóa. Yếu tố thần thì bất an, lo sợ bệnh hoạn, nếu bác sĩ cho mình biết có dấu hiệu bị bệnh cancer thì yếu tố tinh thần suy sụp buông thả khiến các chức năng hoạt động sinh hóa và chuyển hóa của cơ thể làm việc kém hiệu qủa khiến bệnh trầm trọng hơn.

Theo đông y, chúng ta có thể chủ động để điều chỉnh lại bộ ba tinh-khí-thần.

Về yếu tố tinh, bớt ăn uống nhiều bổ béo, ăn uống có điều độ, bỏ bớt thuốc không cần thiết, uống càng ít thuốc và càng cách xa giờ để thuốc có thời giờ chuyển hóa mới uống đến thuốc khác, mà không nên uống cùng lúc chúng sẽ tạo phản ứng xấu trong bao tử trong thời gian chờ đợi chuyển hóa.

Về yếu tố khí, nên tham dự các lớp khí công, hoặc bơi lội, giúp cho cơ thể nhiều khí lực để chuyển hóa thức ăn thuốc uống thành chất bổ dưỡng nuôi cơ thể, và giúp đào thải cặn bã ra khỏi cơ thể được nhanh và đều đặn mỗi ngày.

Về yếu tố thần, tham dự các khóa thiền để tĩnh tâm, dưỡng tâm an thần, khí công thiền để khai thông huyệt đạo giúp khí huyết lưu thông khắp cơ thể chống được đau đớn do khí huyết bị ứ tắc.

Về cách chữa bệnh của đông y, thầy thuốc sẽ giúp cho bệnh nhân ăn không được sẽ ăn được, ngủ không được sẽ giúp cho ngủ được, thở không được vì khí nghịch, đờm chặn ở phế khí quản sẽ có thuốc giúp cho khai thông tán đờm làm cho thở được dễ hơn, đầy bụng ăn không tiêu sẽ giúp cho tiêu hóa tốt, tiểu bí không ra sẽ giúp cho tiểu được, đại tiện không thông, bị táo bón sẽ giúp cho xả ra nhiều, đau đớn sẽ làm cho hết đau... Có nghĩa là đông y chữa bệnh bằng cách điều chỉnh dần bộ ba tinh-khí-thần cho đến lúc nào hệ thống nội tiết và hệ miễn nhiễm phòng chống bệnh tự chúng có thể hoạt động mạnh trở lại như bình thường thì con người hết bệnh tật chứ không chú trọng đến tiêu diệt tế bào cancer.

Đối với tây y chủ trương bỏ đói không cho tế bào cancer phát triển, nhưng chúng ta thử nghĩ, thí dụ nếu cơ thể có 100 tế bào trong đó có 30 tế bào cancer. Bỏ đói cơ thể cho 30 tế bào cancer bị đói đến chết thì 70 tế bào khỏe cũng bị đói đến chết khiến cơ thể bệnh nhân suy nhược, mệt mỏi rã rời, trong khi đó cơ thể phải bị hành hạ bởi hóa chất trị liệu, xạ trị, cuối cùng tế bào cancer chưa chết, chỉ có bệnh nhân yếu sức, đau đớn cho đến chết ôm theo tế bào cancer chết theo như một cảm tử quân bất đắc dĩ .Tại sao chúng ta không nghĩ ngược lại, giúp cho các tế bào mạnh lên thì thế trận giữa địch và ta vẫn giữ ở tỷ lệ 30%, đông y dùng hà thủ ô trong đó có thành phần chính là chất lécithin có khả năng liên kết các màng tế bào không cho phát triển vô tổ chức. Cơ thể muốn có các tế bào khỏe để trở thành đoàn quân mạnh tự tiêu diệt tế bào cancer thì yếu tố tinh thần phải vững mạnh, có niềm tin tất thắng, có nghĩa là tinh thần phải vận động tâm lý chiến thì chúng mới không bỏ hàng ngũ theo địch, lúc đó thực sự tế bào cancer bị cô lập và tự hủy hoại và biến mất.

Ngoài cách chữa bệnh cancer tây y còn đang nghiên cứu, nhưng còn đối với các bệnh nan y khác thì vẫn có sự lạm dụng thuốc vô lý vì cách dùng thuốc với mục đích là chữa cho khỏi bệnh chứ không phải chữa chưa khỏi bệnh này lại bị biến chứng sang bệnh khác khiến cho bệnh từ nhẹ đến nặng. Thuốc không phải dở, cũng không phải bác sĩ khám dở, mà do một bệnh có liên quan đến nhiều tạng phủ, phải tìm gốc bệnh để chữa gốc, chứ không phải chữa riêng từng khoa, như bác sĩ chuyên khoa tim mạch cho thuốc tim mạch, chuyên khoa bao tử và đường ruột cho thuốc trị bao tử và ruột, chuyên khoa thần kinh cho thuốc an thần, chuyên khoa phổi cho thuốc trị phổi, chuyên khoa gan cho thuốc trị gan, còn những thứ thuốc khác như thuốc đau nhức phong thấp, thuốc loãng máu, thuốc chống loét bao tử, thuốc chống mục xương khi phải nằm lâu.. Chúng ta cứ tưởng tượng mỗi loại bệnh chỉ cần uống 3 viên một ngày, nếu chúng ta có tám hay mười loại bệnh, các loại thuốc này vào bao tử cùng một lúc, nó có được phân phối riêng rẽ cho từng loại bệnh mà bác sĩ mong muốn hay không, hay cơ thể chúng ta là thùng rác chứa độc tố, chúng lại tạo ra một hợp chất biến thành xung khắc hại cơ thể thêm. Nếu chúng ta thử nghiệm đem những thuốc này cùng một lượt hòa chung với nhau rồi cho chó uống thử xem chó có chết hay không ? Ở xứ này không ai dám thử, nếu chó có chết thì cũng huề cả làng. Tuy nhiên con người có sức đề kháng mạnh, cứ uống thẳng tay cho hết thời gian trị liệu, một là sống hai là chết. Khi bệnh chính khỏi rồi sau đó lại tiếp tục chữa đến bệnh khác do biến chứng của thuốc nhất là bệnh gan nhiễm độc, bệnh tâm thần, si khờ, mất tri giác, chân tay tê cứng liệt, đi đứng ăn uống khó khăn, nằm một chỗ lại phải uống thuốc suốt đời cho đến chết chỉ là thời gian sớm hay muộn mà thôi.

Một số không ít những gia đình ở Việt nam đi nước ngoài theo diện đoàn tụ hay H.O. đã từng gặp cảnh vĩnh biệt những người thân trong cảnh éo le, nghẹn ngào, khi phải chết bất đắc kỳ tử trong giai đoạn uống thuốc trị lao trước khi được Cao ủy Liên hiệp quốc cho phép xuất cảnh. Tôi có một người thân, tuổi khoảng 70, ông bị lao phổi ở tuổi 40 đã chữa khỏi, người rất khỏe mạnh, trước năm 1975 là người thành công trong sự nghiệp, và đang hưởng thú điền viên, ngày ngày đạp xe đạp dạo chơi ở các chợ bán cây cảnh và có thú vui nuôi chim. Khi ông được đi Mỹ diện H.O. theo con, phải qua kỳ khám sức khỏe, phổi ông còn vết sẹo cũ nên phải uống thuốc lao, ông uống được 3 tháng, khi chụp phổi lại, vết sẹo không biến đổi, họ nghĩ chữa lao là sai lầm, cho ông đi bệnh viện ung thư để thử xem có phải ung thư không, thử tới thử lui mãi ông bị suy nhược, khó thở, mất ngủ, ăn uống không được, cho đến ngày lên danh sách chuyến bay thì ông từ gĩa cõi đời một cách oan uổng. Một trường hợp khác cũng đi đoàn tụ, người chồng phải uống thuốc lao chỉ vì hồi nhỏ bị té ngã từ trên cây cao xuống đất, phổi có vết sẹo, anh uống thuốc được khoảng 5 tháng thì bị chai gan, biến chứng thành bệnh cao áp huyết, sau bị tai biến mạch máu não rồi lìa đời. Vậy tục ngữ còn nước còn tát, cũng còn phải tùy tát theo kiểu nào, để không bị biến chứng khác có hại cho cơ thể sau khi khỏi bệnh